Kỹ thuật trồng ớt

I. Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng 1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng Cây ớt có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ một loài ớt cay hoang dại, được thuần hóa và trồng ở châu Âu, ấn Độ cách đây hơn 500 năm. ớt được dùng như 1 loại gia vị ăn tươi, ngâm giấm, muối, làm bột và làm tương. ớt cũng được dùng làm thuốc, ớt dùng để chống khó tiêu, lên men ruột, ỉa chảy, kiết lỵ, nôn mửa không cầm được, trĩ ngoại, thấp khớp, thống phong, thủy thũng, viêm thanh quản, ho gà và một số chứng liệt. Lá ớt còn được dùng để đắp trị mụn nhọt không vỡ mủ, vết rắn rết cắn. 

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG ỚT
 (Casicum L.)
 

I. Nguồn gốc, đặc tính sinh học và giá trị dinh dưỡng
1.1. Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
Cây ớt có nguồn gốc từ Nam Mỹ, từ một loài ớt cay hoang dại, được thuần hóa và trồng ở châu Âu, ấn Độ cách đây hơn 500 năm. ớt được dùng như 1 loại gia vị ăn tươi, ngâm giấm, muối, làm bột và làm tương. ớt cũng được dùng làm thuốc, ớt dùng để chống khó tiêu, lên men ruột, ỉa chảy, kiết lỵ, nôn mửa không cầm được, trĩ ngoại, thấp khớp, thống phong, thủy thũng, viêm thanh quản, ho gà và một số chứng liệt. Lá ớt còn được dùng để đắp trị mụn nhọt không vỡ mủ, vết rắn rết cắn.
Có 2 nhóm phổ biến là ớt cay và ớt ngọt.
ớt ngọt (salat pepper) được trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ và một vài nước châu á, ớt ngọt được sử dụng như một loại rau xanh hoặc dùng để chế biến. ớt ngọt mới được đưa vào trồng ở nước ta từ cuối những năm 60 với diện tích nhỏ nhưng đến nay diện tích ớt ngọt đã tăng lên đáng kể
ớt cay: (được trồng phổ biến ở ấn Độ, châu Phi và các nước nhiệt đới khác. ớt cay được dùng làm gia vị. ớt cay là cây có giá trị kinh tế và trồng phổ biến hơn ớt ngọt.
ớt là cây trồng 1 năm nhưng dạng hoang dại (quả rất nhỏ) có thể sống và cho quả liên tục trong nhiều năm.
1.2. Yêu cầu ngoại cảnh
ớt là cây ưa nhiệt. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển của ớt là 25-280C ban ngày và 18-200C ban đêm. ở nhiệt độ 150C hạt nảy mầm sau gieo 10-12 ngày và cây sinh trưởng phát triển chậm. ở nhiệt độ trên 320C cây sinh trưởng kém, hoa bị rụng nhiều nên tỷ lệ đậu quả thấp. Cây ớt cần nhiều ánh sáng, thiếu ánh sáng nhất là thời kỳ cây ra hoa sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ đậu quả.
ớt là cây chịu hạn tốt, tuy vậy, ở thời kỳ ra hoa và đậu quả, độ ẩm đất và không khí đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành khối lượng và chất lượng quả. Độ ẩm đất thấp (dưới 70%) quả hay bị cong, vỏ quả không mịn.
ớt chịu úng kém, nếu độ ẩm đất >80% làm bộ rễ kém phát triển, cây còi cọc.
II. Biện pháp kỹ thuật

2.1. Các giống trồng:
ớt cay có rất nhiều giống như:
+ ớt sừng bò trồng nhiều ở miền Bắc và Trung du Bắc bộ: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương. Giống có thời gian sinh trưởng 110 - 115 ngày tùy theo thời vụ trồng. Quả dài 10-12cm, đường kính quả 1,0 - 1,5cm, màu đỏ tươi. Thời gian cho thu quả 35-40 ngày, năng suất 10 - 12 tấn/ha. Hàm lượng chất khô đạt 21-22%.
+ ớt chìa vôi: Phổ biến ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế và Duyên hải Nam trung bộ. Giống có thời gian sinh trưởng 115 - 120 ngày, cây cao 40 - 45 cm, cây có 4-5 cành. Mỗi cây có 40 - 45 quả. Năng suất trung bình đạt 10 - 13 tấn/ha. Hàm lượng chất khô 18%.
Cả hai giống ớt trên đều có số quả/cây nhiều, quả to >10g/quả, màu quả đẹp, chất lượng tốt nhưng bị bệnh thán thư từ trung bình đến nặng, virus và nhện trắng hại nặng.
Giống HB9 và HB14 là hai giống ớt lai F1 của Viện Nghiên cứu Rau quả tạo ra, thời gian từ trồng đến thu quả đầu 90 - 95 ngày, năng suất trung bình vụ thu đông đạt từ 19 - 21 t/ha, xuân hè đạt từ 22 - 25 t/ha, giống có khả năng chống chịu bênh thán thư khá, quả chín bóng đỏ đẹp hấp dẫn người tiêu dùng và đặc biệt phù hợp cho chế biến xuất khẩu.
Ngoài ra còn các giống ớt cay của Hàn Quốc như Red Chilli và Hot Chilli

2.2. Thời vụ trồng
ớt được gieo trồng vào hai thời vụ chính:
+ Vụ xuân hè: gieo hạt từ tháng 1-2 trồng tháng 2-3 thu hoạch tháng 4-5 đến tháng 6 tháng 7
+ Vụ thu đông: gieo hạt từ tháng 8-9, trồng tháng 9-10 và thu hoạch tháng 12-1 năm sau.
ớt thích hợp nhiệt độ cao từ 25-300C, do đó nên bố trí trồng vụ xuân hè sẽ cho năng suất cao.

2.3. Chọn và làm đất:
- Chọn đất thoát nước tốt, có cơ cấu thoáng xốp như: đất cát pha, đất thịt pha sét, đất phù sa ven sông và đất canh tác lúa. Đất không hoặc ít nhiễm phèn mặn, có hàm lượng dinh dưỡng khá, pH đất thích hợp 5,5-6,5.
- Có nguồn nước tưới tốt và giao thông vận chuyển sản phẩm thuận tiện.
- Đất: được cày bừa kỹ sâu 20-25cm, phơi ải 10-15 ngày.
- Luống: đánh cao thấp tuỳ mùa vụ: mùa mưa luống cao 25-30cm, mùa khô luống cao 20 - 25 cm, mặt luống rộng 40-50cm (trồng một hàng) rãnh rộng 40- 50cm; trồng hàng đôi mặt luống rộng 1- 1,2cm.
2.4. Gieo và trồng
Giai đoạn vườn ươm
Có 2 cách gieo hạt trong vườn ươm: gieo trực tiếp xuống đất và gieo vào khay bầu.
Cách thứ 1: Gieo trực tiếp xuống đất:
- Đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại. Xử lý đất bằng Mocab (20 ml/8 lít) và Sincosin (30 ml/8 lít) tưới hoặc phun đều trước khi phay đất để hạn chế tuyến trùng. 1ha ớt cần 100 - 150 mvườn ươm. Lên luống cao 25- 30cm, ruộng 80- 100cm.
- Lượng phân bón lót cho 1 mvườn ươm là: 1,5 kg phân chuồng, 150 g phân lân super, 100 g kali.
- Cách bón: Rải phân đều trên mặt luống, đảo đều đất và phân, vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống dày 1,5 - 2 cm.
- Lượng hạt cần cho 1 ha là 250 - 300 gam, lượng hạt gieo cho 1 mvườn ươm là 1,5 - 2,0 g
Cách gieo hạt: hạt giống nên ngâm trong nước ấm (3 sôi 2 lạnh) trong thời gian 2-3 giờ vớt ra đãi sạch và ủ 2-3 ngày trong túi vải giữ ẩm và giữ ấm hạt sẽ mọc mầm. Hạt gieo đều trên mặt luống, sau khi gieo phủ 1 lớp trấu hoặc rơm rạ chặt ngắn 5-10 cm, sau đó dùng ô roa tưới đẫm nước. Trong 3-5 ngày sau gieo tưới nước 1-2 lần/ngày, khi hạt đã nảy mầm nhô lên khỏi mặt đất ngừng tưới 1 - 2 ngày, sau đó cứ 2 ngày tưới 1lần. Khi cây được 2 - 3 lá thật tỉa bỏ cây bệnh, cây dị dạng, để khoảng cách cây ´ cây 3 - 4cm/cây. Tuyệt đối không tưới phân đạm trong giai đoạn vườn ươm.
Vườn ươm gieo cây con nên có mái PVC che mưa hoặc tốt nhất gieo trong nhà lưới sáng để giữ cho cây không bị ảnh hưởng bởi mưa hoặc nắng quá.
Cách thứ 2: Gieo hạt vào khay bầu
Để tiết kiệm hạt giống, công chăm sóc cây giai đoạn đầu và tăng độ đồng đều cây, cần sản xuất cây con trong khay xốp hoặc khay nhựa có kích thước 60 ´ 45 cm với 40 hốc/khay.
Vật liệu làm bầu gồm 40% đất, 30% trấu hun hoặc mùn mục và 30% phân chuồng mục. Các thành phần trên được trộn đều, loại bỏ rơm, rác, vật rắn sau đó đổ đầy các hốc trên khay, ấn nhẹ rồi xếp khay trên giá cao cách mặt đất ít nhất 50 cm trong nhà lưới có che mái bằng vật liệu sáng (nylon hoặc tấm nhựa trắng).
Tiêu chuẩn cây giống tốt: cây cứng cáp, đốt sít, mập, lùn. Cây có 5 - 6 lá thật thì nhổ trồng. Sau khi gieo hạt 30-35 ngày trong vụ đông và 45 -50 ngày trong vụ xuân cây con sẽ đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Trước khi trồng 7 ngày tưới ít nước và cho cây ra ngoài nắng để luyện cho cây cứng cáp, khi đem đi trồng cần tưới đẫm nước.
2.5. Chăm sóc và bón phân:
* Sau khi gieo hạt hoặc trồng cây con, cần tưới ẩm và che nắng lúc cây con chưa bén rễ. Sau khi trồng 20-25 ngày tiến hành làm cỏ kết hợp vun gốc cho cây.
* Phân bón cho 1ha
Lượng phân chuồng cho 1 ha là 20 - 25 tấn phân chuồng mục - tốt nhất là phân gia cầm dùng bón lót, chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi.
Kali khá quan trọng vì nó quyết định độ cay của ớt.
Liều lượng nguyên chất phân hóa học bón cho 1ha là:

Loại phân Tổng lượng 
phân bón
(kg /ha)
Bón lót 
(%)
Bón thúc (%)
Lần 1 Lần 2 Lần 3
Phân chuồng hoai mục 20.000-25.000 100 - - -
N 120 - 140 20 20 30 30
P2O5 40 - 50 100 - - -
K2O 200 - 250 20 20 30 30
 

Cách bón:
Bón thúc lần 1: Sau khi cây bén rễ hồi xanh
Bón thúc lần 2: khi cây ra hoa rộ
Bón thúc lần 3: Sau khi thu quả đợt đầu
Chú ý: Nếu không có phân chuồng hoai mục có thể thay thế bằng phân hữu cơ sinh học với lượng cần dùng là 1000 - 3000 kg/ha
Chăm sóc:
Sau khi trồng cần tưới đủ ẩm cho cây. Thường xuyên tỉa bỏ lá già ở gốc và lá bệnh để tạo độ thông thoáng cho cây, hạn chế nơi cư trú của sâu bệnh hại. Trước khi cây ra hoa tiến hành tỉa cành, mỗi cây chỉ để 3-4 cành.
2.6. Phòng trừ sâu bệnh
ớt là đối tượng của các loại sâu bệnh hại sau:
+ Bệnh thán thư (Colletotricum nigrum El. et stal.) hoặc (Coll capsici But. and Bis.): Đây là bệnh nguy hiểm gây thối hàng loạt. Tất cả các vùng ớt tập trung đều bị bệnh này phá hoại nặng. Do bệnh xuất hiện vào lúc quả chín rộ, vào thời điểm nhiệt độ cao (30oC), mưa nhiều nên rất khó khăn trong việc phòng trừ bằng thuốc hóa học. Do nấm bệnh tồn tại trên tàn dư cây trồng nên phải thực hiện luân canh nghiêm ngặt: không trồng liên tục ớt trên một chân ruộng hoặc trồng ớt sau các cây họ Cà khác (như cà, cà chua...).
Khi phát hiện bệnh, dùng thuốc Zineb 0,1%, Boocdô o,5% phun trừ. Bệnh truyền qua hạt nên phải xử lý hạt trước khi gieo.
+ Bệnh sương mai (Phytophthora infestans Mont.). Phá hoại tất cả các bộ phận trên cây. Bệnh phát sinh từ mép lá, sau đó lan nhanh ra cả cây, gây thối nhũn, sau đó khô giòn và gãy. Hoa bị bệnh chuyển thành màu nâu và rụng. Khi xuất hiện bệnh, dùng Zineb 0,1% phun định kỳ.
+ Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum f. lycopensici): xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Dùng hỗn hợp Kasuzan 0,2%, Fudazon 0,1% phun lên lá và tưới vào gốc cây.
+ Nhện trắng (Poliphago tarsonemus Latus.): gây hiện tượng xoăn ngọn, xoăn lá. Dùng Kental phun với nồng độ 0,2% hoặc Nuvacron 1,5%, Dimecron phun đều trừ được.
+ Rệp (Aphis sp.): thường xuất hiện vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Dùng Actara phun khi phát hiện rệp ở mặt trái lá.
2.7. Thu hoạch:
ớt cay có thời gian ra hoa và tạo quả dài nên thời gian thu hoạch cũng rất dài, có giống tới 100- 120 ngày. Những quả chín nên hái ngay để không ảnh hưởng đến hoa và quả đang lớn. Hái cả cuống, nếu nghiền bột thì sau khi thu đem phơi nắng ngay. Nếu gặp mưa kéo dài, cần phải sấy để ớt không bị mốc, giảm phẩm chất.
Cách trồng ớt ngọt Cannaum longum (grossum) L.
ớt ngọt quả to hơn hẳn ớt cay. Có nhiều hình dạng: tròn dẹt như quả cà chua, tròn dài như quả cà tím, tròn bầu như quả lê, hoặc dạng sừng bò. Vỏ dày 1- 5mm tùy giống. Ruột rỗng cũng có những giống quả dài 20- 22cm, đường kính 8- 9cm, vỏ dày 5mm.
- Thời vụ: thích hợp trên dưới 20oC, cho nên trồng vụ Đông- Xuân thích hợp hơn trồng vụ xuân- hè và trồng mùa hè rất dễ nhiễm bệnh thối nhũn, rám quả. Rất nhạy cảm với hạn, dễ bị rụng hoa, quả. Ưa đất ẩm, khí hậu khô. Gieo hạt tháng 9, trồng tháng 10- 11, thu hoạch tháng 1- 2. Thời gian sinh trưởng 120- 140 ngày. Có thể thêm vụ hè thu gieo tháng 6- 7 trồng tháng 8- 9.
Ươm cây giống: hạt ngâm nước 2 đêm rồi bọc vào vải trộn với mùn ủ 3- 4 ngày cho hạt mọc mầm.
Gieo xong phủ một lớp đất bột mỏng và một lớp trấu. Tưới nước giữ ẩm. Khi cây mọc (sau khi gieo 8- 10 ngày) nếu giá rét, sương muối cần che phên.
- Đất trồng: đất cát pha, thịt pha. Có thể trồng cả trên đất 2 vụ lúa (tức là trồng từ vụ đông). Trồng thuần, khoảng cách 60 ´ 20cm. Cần luân canh, không trồng trên đất đã trồng khoai tây, cà chua. Đất được để ải 10- 15 ngày càng tốt. Lên luống. Bón đủ phân lót. Phân gà rất hợp với cây ớt. Đào hố trồng theo khoảng cách 50 ´ 50cm. Nếu trồng xen vào cây khác thì để cây cao 10- 15cm bổ hốc và bón phân ngay vào hốc để trồng..
- Phân bón: như ớt cay, song tốt nhất là phân chuồng ủ mục.
- Sâu bệnh hại ớt ngọt: Sâu bệnh hại và cách phòng trừ như với ớt cay.
- Thu hoạch: ớt có nhiều lứa hoa, vừa chín vừa hình thành quả và ra thêm hoa. Quả đã chín hái cả cuống, không hái quả xanh. Hái được đến đâu thì tãi ra nơi thoáng gió một đêm cho chín đều và bán ngay không nên dự trữ tươi lâu. Bảo quản lâu thì phơi nắng.